Vụ án bắt cóc, c.ưỡng b.ức gây chấn động nước Áo! (Part 2+3) _____________________________________ Người dịch: Đỗ Thùy Dung | Bài dịch thuộc quyền sở hữu của

Cùng xem bài viết Vụ án bắt cóc, c.ưỡng b.ức gây chấn động nước Áo!
(Part 2+3)
_____________________________________
Người dịch: Đỗ Thùy Dung | Bài dịch thuộc quyền sở hữu của được Phunulamdep tổng hợp và chia sẻ lại cho bạn. Nếu bạn thấy hay! Hãy chia sẻ, để giúp Phunulamdep.com.vn có động lực tổng hợp đăng bài viết nhiều hơn.

Vụ án bắt cóc, c.ưỡng b.ức gây chấn động nước Áo!
(Part 2+3)
_____________________________________
Người dịch: Đỗ Thùy Dung | Bài dịch thuộc quyền sở hữu của dịch giả và chỉ được đăng tải tại Phunulamdep Việt Nam, vui lòng không tự ý repost.
______________________________________
Tác giả: Rainriver778 (48,859 likes)

Part 2

Vào ngày 28/8/1984, Josef gọi Elizabeth qua giúp hắn chút việc. Trước đó hắn đã liên tục cắm cúi làm việc gì đó dưới tầng hầm. Vào cuối những năm 70, hắn nộp đơn lên cơ quan thành phố xin cấp phép xây căn phòng chống vũ khí hạt nhân trong nhà. Thời kì Chiến tranh Lạnh, những người xin cấp phép làm cũng không hiếm vì hồi đó chính phủ nghĩ rằng người dân cần chuẩn bị nơi ẩn nấp khi chiến tranh xảy ra nên vẫn cấp phép bình thường. Josef mất 5 năm để chuẩn bị căn phòng dưới hầm, hắn mời người đến đào phòng dưới tầng hầm và đặt một chiếc cửa thép nặng tầm 300kg. Để có thể hoàn thành được kế hoạch của mình, hắn đã nộp đơn và được chính phủ cấp phép và tài trợ. Bước cuối cùng để hoàn thành được căn phòng này là đặt cánh cửa vào khung và cần có 2 người nên Josef nhờ Elisabeth phụ. Cửa vừa lắp vào khung xong, hai người đang đưng một bên tận hưởng thành quả của mình thì Josef đứng đằng sau cầm chiếc khăn có tẩm sẵn thuốc gây mê bịt mũi con gái mình. Lúc đó Elisabeth vẫn chưa hoàn toàn mất hết ý thức mà cô chỉ mất kiểm soát tứ chi của mình. Cả người cô mềm nhũn và bị chính bố đẻ của mình lôi xuống dưới căn phòng tầm hầm u ám.

Trên nền đất lạnh lẽo, cô bị chính cha đẻ của mình c.ưỡng h.iếp một cách thú tính, cường bạo. Sau khi thực hiện hành vi đồi bại với con gái mình xong, Josef vô cùng thỏa mãn; hắn dùng sợi xích sắt cuốn vài vòng quanh lưng Elisabeth và trói cô vào ống dẫn nước. Mọi việc xong xuôi, hắn quay lưng khóa cửa lại và đi lên nhà, bỏ mặc Elisabeth dưới căn hầm lạnh lẽo tối tăm và làm bạn với lũ chuột. Thật ra đây không phải lần đầu tiên cô bị x.âm h.ại, thực tế cô đã bị hắn bắt đầu c.ưỡng b.ức từ năm 11 tuổi và cướp đi lần đầu của cô. Năm cô 12 tuổi, hắn bắt đầu xây dựng căn phòng dưới tầng hầm. Từ năm 11 tuổi đến khi 18 tuổi, cô chỉ có duy nhất một cơ hội để trốn thoát khỏi nanh vuốt của hắn, chính là lần cô bỏ trốn khỏi nhà. Vậy mà vẫn bị hắn bắt lại và giữ kè kè bên cạnh hắn. Sự vùng vẫy tìm cơ hội sống sót của mình lại vừa phù hợp để làm lý do cho hắn bắt cô lại: “Đấy thấy không, nó lại bỏ nhà ra đi rồi đấy.”

Dần dà cũng không ai quan tâm đến việc cô bé mất tích nữa, nhưng không ai biết có một tên quái vật đang dương dương tự đắc về kế hoạch của mình.

Những ngày đầu hắn nhốt và xích Elisabeth dưới tầng hầm, cô ra sức gào thét kêu cứu, nhưng không một ai nghe thấy. Vì căn phòng đó được làm lớp cách âm đặc biệt, cô có hét to đến mức nào đi chăng nữa cũng không có ai nghe thấy, tiếng khóc của cô cũng không có cách nào truyền đến tai những người ở ngay trên đầu mình. Thời điểm cô kêu cứu trong tuyệt vọng cũng là lúc mẹ cô nộp đơn khai báo tìm người thân. Cả gia đình cô chạy khắp nơi tìm kiếm nhưng kết cục không tìm thấy cô đâu. Trong 5 năm ở dưới căn hầm chật chội, cả thế giới của Elisabeth chỉ gói gọn trong căn phòng bùn đất rộng 17m2, trần nhà cao 1m7, không có cửa sổ, cũng không có ánh sáng tự nhiên, cũng không có nơi để thông với không khí bên ngoài, nơi bật tắt điện thì đặt ở ngoài, tất cả mọi thứ đều bị ngăn cách bởi cánh cửa điện nặng nề. Trong phòng chỉ có đúng một chiếc giường – nơi Elisabeth nằm ngủ, và cũng là nơi cô bị c.ưỡng bứ.c.

Hầu như ngày nào hắn cũng đến, một tuần ít nhất 3 lần. Hắn đến đưa cô đồ ăn, nước uống và những vật dụng sinh hoạt cần thiết. Chỉ khi cô muốn đi wc, hắn mới tháo xích thả cô ra. Elisabeth có thể nghe thấy tiếng cửa vọng lại từ xa đến gần. Nếu hắn chỉ đẩy đĩa thức ăn vào trong, có nghĩa là hôm nay hắn mệt, không có sức động vào người cô. Nếu cảnh cửa mở ra thì hắn sẽ mang đồ ăn vào phòng, và cô sẽ tự biết rằng: hôm nay hắn sẽ ở lại phòng và c.ưỡng h.iếp cô.
“Nhắm mắt, hắn đã ở trên người cô. Mở mắt, những vết mốc lấm tấm trên trần nhà. Cứ lặp đi lặp lại như vậy.”

Không lâu sau hắn mua cho cô một chiếc tủ lạnh nhỏ, như vậy cô có thể đựng thức ăn trong thời gian dài, nếu hắn không đến thì cô còn có thể ăn uống dè xẻn, miễn cưỡng sống qua ngày. Hắn còn cầm đến cho cô một chiếc bếp điện. Cuối cùng cô cũng có thể ăn đồ ăn nóng hổi rồi. Trước đó hắn có xây một căn phòng vệ sinh tạm bợ bên ngoài phòng ngủ. Elisabeth phải chui qua hành lang hẹp mới đến phòng vệ sinh và tắm rửa. Cả hành lang rộng có 60cm, xung quanh được đắp một lớp cách âm dày và nặng.

Hồi mới đầu, Elisabeth bị nhốt trong phòng ngủ, chân thì bị xích lại. Chỉ khi cô muốn đi vệ sinh thì hắn mới cởi xích chân cho cô. Lúc hắn không đến thì cô chỉ còn cách nhịn mà đợi hắn đến. Lúc hắn không đến, cô không ngừng kêu cứu trong bóng tối, dùng hết sức gõ vào ống dẫn nước, hi vọng ai đó sẽ nghe thấy. Nhưng kết cục là cô hét đến mất tiếng cũng không có ai đến cứu cô. Giai đoạn đầu cô không ngừng phản kháng, nhưng đến cuối cùng hắn vẫn nghĩ ra cách để dập tắt ý định đó của cô. Hắn đánh cô đến mức thoi thóp, đến mức cô không còn chút sức lực để phản kháng rồi lại đè cô lên giường c.ưỡng h.iếp; sau đó lại xích cô lại rồi bỏ đi. Dần dà cô từ bỏ việc phản kháng, mọi thứ trở nên đơn giản và hiển nhiên.

Năm 1986, cô phát hiện bản thân mang thai, nhưng 10 tuần sau thì cái thai chết trong bụng. 2 năm sau cô lại mang thai đứa con khác, nhưng hắn tuyệt đối không cho phép cô đi bệnh việc “Đừng nghĩ là mày có thể trốn thoát khỏi tao”. Hắn vứt cho cô một cuốn sách y và để cô tự học cách dưỡng thai. Ngày cô sinh, hắn trốn trên tầng, nhốt cô một mình dưới tầng hầm. Khó khăn lắm cô mới sinh hạ người con gái đầu, một mình lủi thủi tự sinh rồi tự cắt dây rốn. Cô đặt tên cho đứa bé là Kerstin, là đứa con đầu của cô và chính cha ruột của mình. Một năm sau đó đứa con trai lớn Stefan ra đời. Đứa trẻ xuất hiện một cách thần bí trước cửa nhà Josef là đứa con thứ 3 của cô và hắn – Lisa. Lisa vừa được 9 tháng thì bị đem rời khỏi mẹ và bị ngụy tạo là đứa bé bị mẹ bỏ rơi, được “ông ngoại” nhận nuôi. Đứa trẻ được nhận nuôi thứ hai – Monika thật ra là đứa con thứ 4 của Josef và Elisabeth. Đứa bé sinh năm 1994, lúc này Kerstin 5 tuổi, Stefan 4 tuổi. Căn phòng dưới hầm chật hẹp bỗng chốc đông người ở, nên Lisa và Monika bị buộc gửi lên “trên” và được “ông ngoại” nhận nuôi. Còn nhớ lúc “bà ngoại” Rosemarie “phát hiện” ra Monika và nhận được cuộc điện thoại của con gái mình, thật ra là đoạn ghi âm Josef bắt cô ghi từ trước, sau đó hắn qua căn phòng khác dùng điện thoại mua dùng tạm để phát.

Tháng 5 năm 1996, Elisabeth sinh một cặp sinh đôi – Alexander và Michael. Người em Michael gặp vấn đề về hô hấp khi vừa mới sinh ra nhưng Josef từ chối việc đưa đứa bé đi bệnh viện chạy chữa. Vừa sinh xong, Elisabeth nằm trên giường lạy lục hắn cứu lấy Michael, nhưng chỉ nhận được câu trả lời lạnh lùng của hắn: “Thuận theo tự nhiên đi.”. Hai ngày sau Michael ch.ết bên cạnh mẹ, sau đó bị Josef cầm x.ác mang lên tầng và cho vào nồi đun đến nhừ nát không còn vết tích. Đứa bé sinh đôi còn lại Alexander bị Josef đem lên tầng. Lần này cả vợ hắn và những người ở trung tâm phúc lợi xã hội cũng không có chút nghi ngờ nào mà nhận nuôi đứa bé, trở thành “ông bà ngoại” của những đứa cháu bị con gái mình bỏ rơi một cách hiển nhiên.

Elisabeth và Kerstin 7 tuổi, Stefan 6 tuổi cùng bị nhốt dưới căn phòng dưới hầm. Những năm sau đó, Josef lắp cho họ một chiếc tivi nhỏ và mua thêm một chiếc máy ghi âm và máy chụp ảnh. Thông thường mà nói, tầm 9h sáng hắn sẽ lấy lí do xuống phòng làm việc để vẽ tranh và xuống tầng hầm. Sau khi Monika ra đời, hắn nhận thức được việc không gian nhỏ dưới phòng tầng hầm là vấn đề lớn nên cuối cùng cũng đồng ý sửa rộng nhà giam dưới hầm cho mẹ con họ. Ngôi nhà này trước đây có tầng hầm cũ, nhưng không thông với phòng ngủ nơi Elisabeth bị giam cầm. Dưới sự cầu xin thảm thiết của Elisabeth, Josef đồng ý mở rộng không gian sống của mẹ con họ. Anh quyết định mở thêm một phòng ngủ khác vào phòng ngủ hiện tại, sau đó nối phòng của họ với tầng hầm cũ. Elisabeth và các con có phòng ngủ thứ hai và một nơi ăn uống nhỏ. Chúng được nối với nhau bằng lối đi cực kỳ hẹp, chỉ dài vọn vẹn 5 mét. Elisabeth và các con phải dùng tay không đào lối đi thông ra phòng ngủ thứ hai. Josef không cho họ dụng cụ mà chỉ thản nhiên nói với họ rằng nếu muốn thì tự động tay động chân mà làm. Sau 9 năm không ngừng đào bới, không gian sống chỉ vỏn vẹn 17m2 của họ đã được mở rộng đến 55m2. Tuy nhiên độ cao của căn phòng mà họ đào không giống nhau, có chỗ không đến 1m7.

Điều kiện sống có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của những đứa trẻ ở đó. Người con lớn lúc được giải cứu đã 18 tuổi, cao 1m83, nhưng vì trần nhà quá thấp nên thằng bé không thể đi đứng thẳng lưng. Trong căn phòng giam u ám chật hẹp, những đứa trẻ không được tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên nên dẫn đến việc không được cung cấp đủ dưỡng khí. Chúng chỉ biết dựa vào ý chí của mẹ mình mà sống qua ngày, mẹ chúng nói: “Thiên đường ở ngay trên kia thôi.”. Trong không gian chật chội, Elisabeth dạy chúng học, kể chuyện cho chúng nghe, dạy chúng vẽ và nghĩ ra những trò chơi nhằm kích thích sự phát triển não bộ của chúng.

Khoảnh khắc Josef cầm đồ ăn đến, cũng là lúc hắn đến c.ưỡng b.ức Elisabeth. Nếu Elisabeth không làm hắn hài lòng, hắn sẽ bắt bọn trẻ đứng đó nhìn tường tận mọi chuyện để đạt được mục đích làm nhục cô trước mặt bọn trẻ. Nếu ngày hôm đó tâm trạng của hắn tốt thì hắn sẽ cho phép bọn trẻ nấp trong tủ. Có những lúc hắn dùng xích trói lũ trẻ vào ống nước trong góc phòng, không cho phép chúng đi đâu. Nếu lũ trẻ có biểu hiện nghịch ngợm, không nghe lời Josef hay nói quá to, hắn sẽ tắt hệ thống sưởi ấm hoặc không cho ăn vài ngày để trừng phạt chúng.

Josef là kĩ sư, hắn mua nhiều phòng để cho người thuê. Những lúc hắn đi nơi khác mua nhà hay đi du lịch, mỗi lần đi tầm 10 mấy ngày, Elisabeth và các con sẽ lâm vào cảnh bụng đói, không có gì ăn.
Vậy tại sao họ không bỏ trốn?

Vì Josef nói với họ rằng cánh cửa kia nối trực tiếp với điện. Nếu họ nảy sinh ý định cạy cửa bỏ trốn thì sẽ bị giật chết. Hơn nữa hành lang nối với căn phòng còn thiết kế bẫy ga. Lúc họ bỏ trốn chạm phải bẫy, căn phòng ngay lập tức sẽ bị bao phủ bởi hơi ga và dẫn đến ngạt thở ch.ết. Và đương nhiên là nếu họ khiến Josef không hài lòng hay chán ghét, hắn có thể thiết kế điều khiển từ xa và xả hơi ga ra g.iết chết mẹ con họ. Lúc này Elisabeth đã “mất tích” được 24 năm, con gái lớn Kerstin 19 tuổi, con trai Stefan 18 tuổi và đứa bé nhất Felix cũng đã 5 tuổi. 4 miệng ăn dưới hầm dần dà khiến 73 tuổi Josef cảm thấy nặng gánh. Ngoài ra giải quyết những vấn đề của trên tầng và dưới hầm cũng đủ khiến hắn mệt mỏi.

Hơn nữa Elisabeth cũng đã 42 tuổi, tóc trên đầu cô đã trắng sạch sẽ, khuôn mặt lão hóa không khác gì những người phụ nữ trung niên trên 60 tuổi. Sự vô cảm, rụt rè, chậm chạp của cô đã khiến hắn mất dần hứng thú. Mấy năm nay hắn ép Elisabeth viết thư gửi cho gia đình. Giáng Sinh năm 2007, hắn ép cô viết một bức thư nói rằng cô sắp rời bỏ hội tà giáo và trở về nhà. Nhưng tất cả những kế hoạch hoàn hảo của hắn đã bị bệnh tình của Kerstin phá vỡ.

Part 3

Dưới hầm chỉ có đúng một lọ Aspirin và siro ho, bệnh tình của Kerstin ngày càng nguy cấp, Elisabeth không ngừng cầu xin Josef đưa con gái đến bệnh viện khám. Lúc Kerstin hôn mê, cũng có thể hắn nghĩ rằng việc xử lý một xác chết vị thành niên dưới hầm vô cùng phiền phức nên đã đồng ý, nhưng hắn cũng phải đợi 10 mấy ngày sau mới đưa cô bé đi. Hàng năm vợ của hắn – mẹ ruột của Elisabeth sẽ đi du lịch Italy vài ngày, hắn phải đợi vợ đi rồi mới dễ bề hành động. Sau khi Rosemarie rời đi, bệnh tình của Kerstin cũng không thể trì hoãn lâu hơn nữa, Josef lại phải giả vờ ra cửa “nhặt” được thêm đứa trẻ nữa rồi đưa cô bé đi viện. Mấy ngày sau, căn phòng giam dưới hầm cuối cùng cũng bị phơi bày ra ánh sáng sau 24 năm. Stefan 18 tuổi và Felix 5 tuổi lần đầu tiên được ra khỏi cái địa ngục đó, lần đầu được hít thở không khí trong lành, lần đầu nhìn thấy đèn đường cao vút, lần đầu nhìn thấy trời đêm và những vì sao, lần đầu được chạm vào mặt đất, lần đầu được ngồi xe ô tô.

Trên đường đến bệnh viện, Felix dán mũi lên kính cửa sổ, không nói không rằng suốt cả chặng đường, chỉ dán mắt vào tất cả mọi thứ lướt qua bên ngoài cửa sổ một cách háo hức. Về sau thằng bé mới nói nhỏ: “Tuyệt quá.”
Cảnh sát hỏi: “Cái gì tuyệt thế?”
Felix nói: “Tất cả.”

Sau khi bị bắt, Josef đã khai hết tất cả những tội ác và hành động của mình. Dưới sức ép của cảnh sát, hắn đã khai nộp mật mã mở hai cánh cửa sắt dưới hầm. Trong cùng ngày hôm đó, kết quả DNA đã chứng minh tên khốn nạn đó là cha đẻ của 7 đứa trẻ. Ngày 27/4/2008, sau khi nắm được toàn bộ lời khai của Elisabeth, cảnh sát đã nhận được lệnh điều tra của tòa và đến điều tra nơi ở của Josef. Căn nhà họ ở là một tòa nhà 3 tầng, Josef và vợ ở tầng 3, tầng 1 và 2 cho thuê. Lần đầu tiên sau 24 năm có người bước vào căn hầm ngoại trừ Josef. Vừa mở cửa, cảnh sát bị mùi hôi thối xộc vào mũi, cái mùi ẩm mốc cũ kĩ và mùi cơ thể người khiến cảnh sát kì cựu nhất cũng không chịu được mà nôn thốc nôn tháo.

Muốn vào căn phòng dưới hầm, mọi người bắt buộc phải đi qua phòng làm việc bị khóa. Căn phòng dưới tầng hầm có 2 lối vào, một lối được lắp cánh cửa sắt hơn 900kg. Vì sức nặng của cánh cửa nên gần như không thể mở từ bên ngoài vào. Chiếc cửa còn lại chỉ cao 1m, dày 60cm và nặng tầm 300kg. Cánh cửa này được Josef giấu kĩ sau giá đựng trong phòng làm việc sau lớp kiến trúc kiên cố. Muốn tiếp cận căn phòng nơi Elisabeth và các con bị nuôi nhốt có thể dùng điều khiển để mở đóng cửa. Sau 9 năm đào bới, căn phòng đã mở rộng ra 5 căn phòng khác, trong đó có 1 phòng đặt điều hòa và 1 phòng đọc sách. Bề mặt căn phòng không bằng phẳng, bờ tường và trần nhà dán lớp cách âm dày đặc, trên tường được lắp một chiếc ống nhỏ và mỏng. Cảnh sát dự đoán rằng ống dẫn dùng để dẫn không khí và tăng cường khả năng thông khí, nhưng cũng không có tác dụng. Dưới hầm vẫn thiếu không khí, cảnh sát phân tích cho thấy đây chính là lý do gây ra bệnh tình của Kerstin. Do điều kiện môi trường dưới hầm vô cùng kinh khủng nên cảnh sát chỉ có thể thay phiên nhau xuống dưới thu thập chứng cứ, cứ mỗi 1 tiếng phải dừng và lên trên hít thở. Điều thần kì ở đây là bên trên căn hầm là một căn hộ cho thuê, trong 24 năm qua đã có hơn 100 khách thuê. Vậy mà những người đã từng thuê ở đây lại không nói gì, có người nói: “Ừ tôi cũng đã từng nghe thấy tiếng leng keng gõ vào ống dẫn nước, nhưng Josef nói do kiến trúc cũ kĩ nên rất bình thường.” Những khách thuê còn lại cho biết, chuyện nhà người khác nên không quan tâm, nhưng đâu ai ngờ được nó lại đáng sợ như vậy?

Trên mái căn hộ, Josef xây một vườn hoa khá kì công. Hắn vẫn hay lên đây ngồi ngắm hoa sau khi từ dưới hầm lên, hít thở những đợt không khí tươi mới, mát mẻ.

Sau khi vụ án được mở ra đã gây chấn động thế giới. Người người nhà nhà đều thắc mắc Josef Fritzl là con quỷ ác độc như thế nào?

Josef sinh ngày 9 tháng 4 năm 1935, là cư dân địa phương sinh ra và lớn lên tại Amstettem. Bố Josef tên Josef Fritzl Sr. ;mẹ hắn tên Maria Fritzl. Lúc hắn lên 4 tuổi, bố hắn bỏ rơi hai mẹ con sau đó mất mạng trong Thế Chiến thứ Hai. Giáo viên của Josef kể rằng hắn rất thông minh, nhưng cũng khá thu mình. Tốt nghiệp cấp 3, hắn suôn sẻ vào đại học, lấy bằng kỹ sư điện tử rồi dấn thân vào con đường kỹ sư. Vì vậy hắn có hiểu biết và kĩ năng về việc đào hầm, thiết kế cửa sắt điện tử. Sau khi vụ việc xảy ra, cảnh sát đã điều tra lý lịch của Josef và phát hiện ra rằng người đàn ông trung niên trông có vẻ đáng kính này thật ra đã có tiền án từ lâu. Trong đó bao gồm việc bị bắt giữ đối với hành vi phơi bày bộ phận tì.nh d.ục nơi công cộng. Năm 1967, Josef rình mò đột nhập vào căn hộ của một y tá, dùng dao uy hiếp và c.ưỡng b.ức y tá đó. Đúng lúc đó chồng cô phải đi công tác, Josef đã quan sát cô ta một thời gian và chợp thời cơ ra tay. Nhưng lúc đó hắn chỉ bị phạt ngồi tù một năm rưỡi để cải tạo, cuối cùng hắn chỉ ngồi tù một năm rồi ra tù vì cải tạo tốt.

Cùng lúc đó, hắn bị coi là kẻ tình nghi của một vụ c.ưỡng h.iếp khác. Nhưng vì không đủ chứng cứ nên hắn không bị khởi tố. Pháp luật Áo quy định tất cả những tội mà hắn phạm sẽ được xóa bỏ sau 15 năm, nên 25 năm sau, khi hắn nộp đơn xin nhận nuôi những đứa con do mình và chính con gái ruột mình sinh ra, trung tâm phúc lợi xã hội cũng không hề phát hiện ra hành vi cầm thú của hắn. Ngoài 2 vụ án kể trên ra, cảnh sát còn nghi ngờ hắn có liên quan đến hai vụ mưu sát khác cùng vào thời điểm đó.

Thi thể cô gái 17 tuổi Anna Neumayr được phát hiện tại nhà riêng, hung thủ đã dùng khẩu súng thường dùng để săn động vật. Cảnh sát điều tra và cho rằng hung thủ g.iết hại nạn nhân để đạt mục đích tấn công t.ình dục. Một nạn nhân khác là Martina Posch cuxgn 17 tuổi. 12/11/1986, Posch mất tích. 10 ngày sau mọi người tìm thấy th.i thể của cô bên cạnh hồ. Toàn thân cô bị dây siết trói đến ch.ết. Báo cáo khám nghiệm t.ử thi đã xác nhận Martina Posch đã bị c.ưỡng h.iếp trước khi bị g.iết. Và cách nơi phát hiện thi thể không xa là nhà Rosiemarie, cũng là khách sạn nhỏ mà vợ Josef điều hành. Nhưng vì lí do không đủ bằng chứng nên Josef chỉ bị nghi ngờ. Khi cảnh sát lật lại những vụ án cũ, họ đã có một phát hiện vô cùng gây sốc. Đó chính là Martina Posch, người bị g.iết hại năm 17 tuổi có diện mạo y hệt Elisabeth.

Link part 1: https://www.facebook.com/groups/weibovn/permalink/754620408736003/

P/s: vì vụ án phân tích rất chi tiết về quá khứ, tính cách và gia đình của Josef Fritzl nên bài viết còn khá dài. Cảm ơn các bạn đã đón đọc!
______________________________________

Nguồn: https://www.zhihu.com/question/297340933/answer/997163027
Cre pics: Phunulamdep






Hãy chia sẻ bài viết Vụ án bắt cóc, c.ưỡng b.ức gây chấn động nước Áo!
(Part 2+3)
_____________________________________
Người dịch: Đỗ Thùy Dung | Bài dịch thuộc quyền sở hữu của, khi bạn chia sẻ, bạn đã cung cấp 1 kiến thức nhỏ về cuộc sống, bổ ích cho nhiều người biết hơn!
Nguồn: https://www.facebook.com/groups/245234876341228/permalink/757455581785819