[Phunulamdep] Cần ít nhất bao nhiêu người để có thể duy trì một nền văn minh? Có phải hiệu ứng đảo biệt lập có thể hủy diệt nền văn minh nhân loại?(Bài khá dài và có

Cùng xem bài viết [Phunulamdep] Cần ít nhất bao nhiêu người để có thể duy trì một nền văn minh? Có phải hiệu ứng đảo biệt lập có thể hủy diệt nền văn minh nhân loại?(Bài khá dài và có được Phunulamdep tổng hợp và chia sẻ lại cho bạn. Nếu bạn thấy hay! Hãy chia sẻ, để giúp Phunulamdep.com.vn có động lực tổng hợp đăng bài viết nhiều hơn.

[Phunulamdep] Cần ít nhất bao nhiêu người để có thể duy trì một nền văn minh? Có phải hiệu ứng đảo biệt lập có thể hủy diệt nền văn minh nhân loại?

(Bài khá dài và có nhiều hình ảnh!)
_______________
Người dịch: Hà | Bài viết thuộc quyền sở hữu của dịch giả và chỉ được đăng tải tại Phunulamdep Việt Nam, vui lòng không tự ý repost
_______________

Tác giả: Nhân viên tình báo SME
[
3,347 likes]

Ta thường bắt gặp trong các bộ phim khoa học viễn tưởng về thảm họa cảnh các nhân vật lên kế hoạch tái thiết lại thế giới sau cuộc thảm kịch. Vận mệnh của toàn nhân loại trên thế giới rốt cuộc lại rơi vào tay một vài người. Ai trong số họ cũng đều phải gánh vác sứ mệnh xây dựng lại toàn bộ nền văn minh nhân loại.

Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là, sau khi thảm họa xảy ra thì cần ít nhất bao nhiêu người để có thể tiếp tục duy trì nền văn minh hiện có?

Trong Kinh Thánh, chỉ cần có hai người Adam và Eva là đủ để sinh ra toàn thể hậu duệ đời sau.
Nhưng về mặt lý thuyết, điều này chắc chắn không khả thi. Chỉ cần qua một thế hệ, họ sẽ phải đối mặt với vấn đề nan giải là sinh sản cận huyết. Hệ số cận huyết (inbreeding coefficient) giữa họ hàng cấp một (cha và con gái, mẹ và con trai, anh chị em ruột) là ¼. Tức là, xác suất hai alen xuất phát từ hai cá thể bố và mẹ có chung tổ tiên là 25%.
Giao phối cận huyết ở mức độ này thường khiến tỷ lệ mắc các bệnh di truyền đồng hợp lặn ở đời con tăng vọt, sớm muộn rồi cũng sẽ suy tàn. Trong quá khứ, các cuộc hôn nhân cận huyết trong giới hoàng gia quý tộc để duy trì dòng máu thuần chủng chính là vết xe đổ để chúng ta tránh không giẫm vào.

(Ảnh 1)
Charles II là người thừa kế cuối cùng của triều đại Habsburg ở Tây Ban Nha. Các cuộc hôn nhân cận huyết kéo dài suốt 200 năm đã khiến cho vương triều này tuyệt hậu.

Tuy nhiên, không khó để giải quyết vấn đề trên. Nếu chỉ xét riêng mặt sinh học, câu trả lời rất rõ ràng: về cơ bản chỉ cần khoảng vài trăm người là có thể bảo đảm duy trì vốn gen của toàn nhân loại.
Frédéric Marin, nhà vật lý thiên văn học tại đại học Strasbourg (Pháp) đề xuất rằng: số lượng tối thiểu là 98 người. Một quần thể 98 người khỏe mạnh là đủ đảm bảo sự đa dạng di truyền để loài người có thể khôi phục lại dân số ban đầu.
*Trả lời cho câu hỏi chung rằng: cần bao nhiêu cá thể người để có thể hoàn toàn xâm chiếm được một hành tinh

Nhưng việc tái thiết nền văn minh nhân loại không chỉ đơn thuần là một vấn đề sinh học.

Nền tảng của nền văn minh nhân loại tại thời đại hiện nay rất phức tạp rắc rối. Để duy trì hoạt động bình thường của các hệ thống y tế chữa bệnh, điện lực, giáo dục, giao thông, khai thác khoáng sản hoặc giao thông vận tải cần rất nhiều “ốc vít”.
Nếu chỉ có vài trăm hoặc thậm chí chỉ có vài chục người thì tất nhiên là còn lâu mới đủ. Xoay sở sống qua ngày thôi đã đủ lắm khó khăn rồi, chứ đừng nói đến những việc xa xỉ như duy trì nền văn minh rực rỡ xán lạn của nhân loại.
Ngay cả khi chuyển đơn vị sang hàng trăm triệu, cũng không ai chắc chắn được rằng, có thể khôi phục lại được nền văn minh hiện nay.
Trong thực tế, chưa đề cập đến vấn đề tái thiết được nền văn minh nhân loại, chỉ cần duy trì nó ở mức độ đạt được tại thời điểm ấy đã là một vấn đề nan giải. Nền văn minh không những không thể tiến bộ lên mà còn dần thui chột đi.

Trong nghiên cứu về nhân chủng học, có một thuật ngữ rất đáng để chúng ta phải suy ngẫm: hiệu ứng Tasmanian (Tasmanian effect). Trong trường hợp không có sự giao lưu với trình độ kỹ thuật bên ngoài cộng thêm dân số ít ỏi, trình độ kỹ thuật của một số khu vực chẳng những sẽ mãi mãi dậm chân tại một chỗ, mà thậm chí còn có thể thụt lùi so với trước.

(Ảnh 2)
Phần màu đỏ là vùng Tasmania

Tasmania là một hòn đảo nhỏ ở bán cầu Nam, cách châu Úc 200 km, với eo biển Bass ngăn cách hai vùng lãnh thổ này. Diện tích của hòn đảo to gấp 1.87 lần diện tích Đài Loan.
Người Tasmania là một trong những nhóm dân tộc cô đơn nhất trong lịch sử cận đại của thế giới. Nhưng điều khủng khiếp nhất không phải là sự cô độc, mà sự khép kín khiến bọn họ đã rơi vào tình trạng thoái hóa nền văn minh.
Hiệu ứng này còn có một tên khác, đó là tiến hóa ngược Tasmania (Tasmanian Devolution, devolution là từ trái nghĩa của evolution (tiến hóa)). Lịch sử hàng chục ngàn năm « tiến hóa ngược » của nền văn minh trên đảo Tasmanian là một lời cảnh báo cho chúng ta.

(Ảnh 3)
Đảo Tasmania

Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy rằng, lần đầu tiên con người đặt chân đến châu Úc là vào khoảng 65000 năm trước.
Mặc dù hiện nay, châu Úc có vẻ là một điểm đến khá xa vời. Nhưng ở kỷ băng hà, mực nước biển thấp hơn bây giờ, khoảng cách giữa các lục địa cũng gần hơn.
Tất nhiên là không thể đi bộ đến châu Úc, nhưng nhờ rất nhiều các đảo trung gian có thể được sử dụng như trạm trung chuyển, con người có thể dễ dàng bơi đến đó.

(Ảnh 4)
Phần có màu sắc nhạt hơn là đáy biển ở kỷ băng hà

Sau khi đặt chân đến châu Úc, tổ tiên của thổ dân Úc đã băng qua đồng bằng Bass như cây cầu dẫn đến Tasmania. Đã có dấu chân của loài người vào khoảng 42000 năm trước tại Tasmania. Tại thời điểm ấy, Tasmania vẫn còn được kết nối với lục địa Úc, con người đôi bên vẫn có sự liên lạc với nhau.
Nhưng đến khoảng 10 000 năm trước, mực nước biển dâng nhanh khiến cho đồng bằng Bass trở thành Eo biển Bass.
Khi ấy, hai nhóm quần thể người ở hai lục địa này vẫn chưa chế tạo được phương tiện vận chuyển đường thủy để có thể vượt qua eo biển Bass. Nước biển mênh mông rộng lớn đã cắt đứt hoàn toàn kết nối hàng ngày giữa Tasmania và lục địa Úc.

(Ảnh 5)
Vị trí một số di tích khảo cổ của loài người được phát hiện trên bờ biển Tasmania và bờ biển Victoria

Kết quả, từ hàng ngàn đến hàng chục ngàn người người trên đảo Tasmania dường như đã bị cô lập hoàn toàn, sống đơn độc một mình trên thế giới này.
Xét theo góc độ này, Tasmania quả là chốn bồng lai tiên cảnh tách biệt hoàn toàn với thế giới này, không có gì là không tốt hết. Nguồn cung cấp dồi dào trên đảo là quá đủ để đảm bảo cho tất cả người dân cơm no áo ấm sung túc đủ đầy.
Nhưng khi những người châu Âu da trắng đầu tiên cập thuyền đến Tasmania, bọn họ đều bị choáng váng trước cuộc sống lạc hậu của thổ dân nơi đây. Hóa ra người Tasmanian lại sống một cuộc sống nguyên thủy nhất trên thế giới này.

(Ảnh 6)
Phụ nữ Tasmanian được vẽ vào năm 1802

Bình thường, chúng ta sẽ đánh giá mức độ văn minh của một quần thể, một bộ lạc người dựa trên một số điểm đặc thù, ví dụ như quần áo, công cụ hay các loại vũ khí phức tạp tinh vi.
Người Tasmanian khi ấy đã mất đi các kỹ năng chế tạo công cụ một cách thô sơ nhất. Kể cả đơn giản nhất như buộc tảng đá cứng hoặc xương động vật vào tay cầm bằng gỗ để tạo ra giáo, mũi tên hoặc búa rìu, bọn họ cũng không làm được.
Phải biết rằng, những công cụ thô sơ ấy, thậm chí từng được sử dụng rộng rãi bởi những chủng người đã tuyệt chủng từ lâu. Không kể đến người Neanderthal, người Flores* (còn được gọi là người lùn/Hobbit) cao bằng một nửa chúng ta cũng đã học được kỹ năng ấy từ 90 000 năm trước.
*Homo floresiensis

(Ảnh 7)
So sánh kích thước hộp sọ giữa Homo floresiensis và Homo sapiens

Người Tasmania đường đường chính chính thuộc chủng Người tinh khôn (Homo sapiens). Phải biết rằng, chủng người Homo sapiens với tư cách là những kẻ thống trị trái đấy, hiện giờ đã có thể hạ cánh xuống mặt trăng. Thậm chí những thiết bị thám hiểm mà chúng ta tạo ra còn có thể vượt ra khỏi hệ mặt trời.
Nhưng những người Tasmanian bị cô lập tựa như sống ở một vũ trụ song song khác, và họ không hề sử dụng ngay cả những công cụ đơn sơ cơ bản nhất. Nghiêm túc đánh giá mà nói, công nghệ kỹ thuật của người Tasmanian còn kém hơn cả loài người ở thời kỳ đồ đá cũ (Paleolithic). Các vũ khí và công cụ tân tiến nhất cũng chỉ có giáo gỗ, đá và thương ném bằng gỗ mà thôi.

(Ảnh 8)
Công cụ bằng đá của Tasmania

Tại thời điểm ấy, những người châu Âu đã có kinh nghiệm xâm chiếm các nước thành thuộc địa vô cùng phong phú, đã rất bất ngờ trước sự lạc hậu của người Tasmanian. Sau đó, những người châu Âu này từng cho rằng, đây là một chủng dân tộc cực kỳ nguyên thủy, hoặc đang nằm trong giai đoạn chuyển tiếp giữa vượn và người. Nhưng bọn họ lại có ngoại hình khá tương đồng với chúng ta.
Trong hơn 100 năm khai quật khảo cổ sau đó, con người đã khám phá ra một sự thật còn đáng kinh ngạc hơn.

(Ảnh 9)
Người Tasmania

Trong quá khứ, trình độ kỹ thuật của người Tasmanian cũng ngang bằng với trình độ của thổ dân lục địa Úc. Ngành nông nghiệp của bọn họ không hề kém cạnh mà thậm chí còn có chỗ vượt trội với kỹ thuật săn bắn và câu cá tiên tiến. Nhưng sau 10 000 năm bị cô lập, người Tasmanian đã quên đi phần lớn những công nghệ kỹ thuật và kiến thức tổ tiên của họ để lại.
Những manh mối khảo cổ học cũng cho thấy những công cụ và kỹ thuật này bị mai một lần lượt từng thứ một. Cứ mỗi một khoảng thời gian trôi qua, một số kỹ năng sẽ dần biến mất trong trong một nhóm nhỏ người Tasmanian.

(Ảnh 10)
Đàn ông Tasmania

Khi thực dân châu Âu lần đầu tiên nhìn thấy dân tộc này, bọn họ về cơ bản không còn mặc quần áo.
Nhưng chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng, trong quá khứ, người Tasmanian đã ăn mặc rất ấm áp. Bởi vì vào khoảng hơn 10 000 năm trước, khí hậu nơi đây lạnh hơn rất nhiều so với hiện tại, và ở một số nơi ẩm ướt trên đảo còn bị đóng băng quanh năm.
Ban đầu, người Tasmanian cũng sử dụng các công cụ từ xương cốt, như kim móc hoặc kim khâu quần áo làm bằng xương. Nhưng tiếc thay, những kỹ thuật này sau đấy bị mai một và thất truyền theo thời gian, và không còn ai biết may quần áo.
Vậy nên vào lúc bấy giờ, người Tasmanian chọn khỏa thân vào mùa hè. Đến mùa đông, họ cũng chỉ đơn giản khoác lên người da của kangaroo và cố định bằng các mảnh da động vật bị rách. Ngay cả khi thời tiết lạnh lẽo khắc nghiệt, họ cũng chỉ bôi mỡ động vật lên phần da không được che chắn.

(Ảnh 11)
Hóa thạch xương và đồ trang trí được sử dụng bởi người thượng cổ phía Bắc Trung Quốc

Đảo Tasmanian bốn bề bao quanh toàn biển là biển, tài nguyên hải sản vô cùng phong phú.
Nhưng các chứng cớ khảo cổ học cho thấy, bắt đầu từ khoảng 5000 năm trước, tần suất đánh bắt hải sản của người Tasmanian bắt đầu giảm dần. Đến khoảng 3800 năm trước đây, bọn họ hoàn toàn ngừng hoạt động đánh bắt cá. Các công cụ liên quan đến việc đánh bắt hải sản ví dụ như lưới đánh cá, đinh ba và lưỡi câu cũng theo đó mà biến mất.
Giữa vô vàn sinh vật biển, người Tasmanian chỉ nhặt nhạnh những loài động vật giáp xác ven biển làm thức ăn. Từ đó, bọn họ đã sống cuộc sống hái lượm và săn bắn nguyên thủy hơn rất nhiều, 4-5 gia đình sống chung một khu đất nương tựa vào nhau. Thật khó tưởng tượng nổi, bọn họ lại từ bỏ nguồn cá dồi dào dinh dưỡng như vậy. Khi người phương Tây đặt chân lên đảo, ước tính có khoảng 4000 người Tasmanian sống trên đảo.
Nhiều ghi chép cũng cho thấy, lần đầu tiên nhìn thấy người châu Âu đánh bắt cá, những người Tasmanian thể hiện biểu cảm ngạc nhiên vô cùng.
Trong khi ấy, tất cả các kỹ thuật và công cụ trên vẫn được tiếp tục sử dụng tại lục địa Úc cách đảo Tasmania không xa. Hơn nữa, thổ dân Úc cũng có cuộc sống tân tiến phong phú phát triển giàu có rực rỡ.
Nhưng rất may là người Tasmania đã không đánh mất kỹ năng quan trọng nhất là dùng lửa. Nếu không, bọn họ cũng mất luôn tư cách hòa nhập vào cuộc sống ở thời đồ đã cũ (Paleolithic).

(Ảnh 12)
Bốn thổ dân Tasmanian vào những năm 1860

Nhưng xem đi xem lại, ngoại hình và tâm trí của người Tasmanian cũng không khác người hiện đại là bao. Khi người châu Âu đến, bọn họ nhanh chóng háo hức học theo những phương pháp mới được du nhập, và tiếp thu những công nghệ tiên tiến.
Nhưng đáng tiếc rằng, cuối cùng bọn họ cũng không chống lại được cuộc tàn sát và vi trùng do người châu Âu mang đến. Hiện tại, người Tasmanian thuần chủng không còn tồn tại.
Người Tasmanian đã bị tụt lại quá nhiều ở phía sau. Trong con mắt của người châu Âu da trắng, đây thậm chí còn không tính là một cuộc chiến mà hoàn toàn chỉ là một nền văn minh cấp cao nghiền nát một nền văn minh cấp thấp thành tro bụi.

(Ảnh 13)
Thổ dân Tasmanian cuối cùng

Xét theo trường hợp của Tasmanian, cô lập hoàn toàn với thế giới có lẽ cũng không phải là chốn thiên đường giữa thế tục, mà là khởi đầu cho sự xuống cấp một nền văn minh. Không ai biết chính xác chuyện gì cụ thể đã xảy ra ở đảo Tasmania, nhưng nền văn minh đã mai một từng chút từng chút. Nhà khảo cổ học Rhys Jones đã mô tả rằng, đây là một ví dụ về “sự kìm hãm phát triển tư duy lâu dài”.
Trong nghiên cứu nhân chủng học, hiện tượng môi trường khép kín và kích thước dân số quá nhỏ để truyền lại công nghệ và nền văn minh vốn có được gọi là “Hiệu ứng Tasmania”.
Tuy nhiên, sự thoái hóa nền văn minh diễn ra trên đảo Tasmanian không phải là trường hợp duy nhất. Từ thế kỳ 20 đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện ra trên rất nhiều hòn đảo biệt lập, một số công nghệ kỹ thuật cũng dần bị mai một theo thời gian.
Từ những ghi chép hóa thạch, tỷ lệ đánh mất nền văn minh nhân loại trên trái đất lớn đến mức đáng kinh ngạc. “Nền văn minh biến mất” từ lâu vẫn luôn là một phạm trù rất hấp dẫn và thu hút sự quan tâm. Về lý thuyết, chỉ cần vài trăm người là đủ để duy trì tiếp tục hương khói loài người. Nhưng một khi nền văn minh đã bị cô lập và lãng quên, thì sẽ chỉ ngày càng mai một và suy tàn mà thôi.
Chúng ta đều biết rằng, khả năng nhận thức của loài người trong xã hội hiện tại được thể hiện qua học tập và ai ai cũng là cao thủ trong việc bắt chước. Có lẽ ta không thể dự đoán được những công nghệ kỹ thuật mới, nhưng nhìn chung, quần thể càng lớn thì càng nhiều công nghệ kỹ thuật được sáng tạo và phát triển. Những công nghệ và kiến thức mới này có thể lan truyền khắp toàn bộ nhóm quần thể thông qua hành vi mông phỏng bắt chước kia.
Vì vậy, trong một xã hội có quy mô hạn chế, có khả năng sẽ tồn tại một giới hạn trên cho sự phát triển của cả nền văn minh.

Điều này vô tình khiến một suy nghĩ rất gây chấn động len lỏi trong đầu chúng ta: Trái đất không phải là một hòn đảo Tasmania trong vũ trụ hay sao? Sống tại hòn đảo biệt lập như trái đất, nền văn minh nhân loại có lẽ cũng sẽ đến ngày đạt đến giới hạn của nó mà thôi.

*Tài liệu tham khảo
1. Corey S. Powell.How many humans would it take to keep our species alive? One scientist's surprising answer.nbcnews.2018/8/14
(link:
https://urlz.fr/dxVn)
2. Joseph Henrich.Demography and cultural evolution: how adaptive cultural processes can produce maladaptive losses: the Tasmanian case.American Antiquity .2004
(link:
https://urlz.fr/dxVq)

Đã chỉnh sửa vào 24/03/2019
_______________
Nguồn:
1. Link gốc bài viết và ảnh: https://zhuanlan.zhihu.com/p/60257812
2. Bài báo của Frédéric Marin : https://urlz.fr/dxVD
3. Tìm hiểu thêm về Rhys Jones : https://urlz.fr/dxVG và https://urlz.fr/dxVH
4. Đọc thêm về hiệu ứng Tasmanian (nhất là phần bình luận) : https://urlz.fr/dxVI
5. Bài báo đưa ra ý kiến rằng dân số không ảnh hưởng đến mức độ phức tạp của một nền văn hóa : https://urlz.fr/dxVW






Hãy chia sẻ bài viết [Phunulamdep] Cần ít nhất bao nhiêu người để có thể duy trì một nền văn minh? Có phải hiệu ứng đảo biệt lập có thể hủy diệt nền văn minh nhân loại?(Bài khá dài và có , khi bạn chia sẻ, bạn đã cung cấp 1 kiến thức nhỏ về cuộc sống, bổ ích cho nhiều người biết hơn!
Nguồn: https://www.facebook.com/groups/245234876341228/permalink/711396403058404